23/8: WWW – 25 năm thay đổi thế giới

Bạn có biết ngày hôm nay, 23/08 là ngày kỷ niệm 25 năm ra đời của Web?

Sau 25 năm, World Wide Web tiếp tục sứ mệnh cách mạng hóa công nghệ trên toàn thế giới, tạo ảnh hưởng sâu sắc trong nền văn minh nhân loại thời hiện đại.

Cách đây 1/4 thế kỷ, mạng lưới toàn cầu World Wide Web chỉ là một ý tưởng mơ hồ của một chuyên gia máy tính trẻ tuổi. Theo AFP, Tim Berners-Lee của Trung tâm nghiên cứu Cern ở Thụy Sĩ ban đầu chỉ muốn nghĩ ra một phương pháp cho phép truy cập dễ dàng các tập tin từ nhiều máy tính liên kết với nhau. Tuy nhiên, ý tưởng này nhanh chóng mở đường cho một hiện tượng toàn cầu có ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng tỉ người trên thế giới. Lúc đó, chuyên gia Anh đã trình bày kế hoạch của mình vào ngày 12/3/1989, và đó là thời điểm được công nhận là ngày khai sinh WWW. Dù vậy, đối với người thời đó, ý tưởng quá mức táo bạo như vậy dường như không thực, và khó có thể triển khai trên thực tế. Trước dự án bị xem là quá “xấc xược”, các đồng nghiệp Cern của Berners-Lee hoàn toàn phớt lờ, theo cha đẻ của WWW nhớ lại.

Vào thời đó, ít ai biết được quân đội Mỹ đã bắt đầu nghiên cứu dự án các mạng máy tính nối kết từ những năm 1950, và đến năm 1969 Lầu Năm Góc triển khai Arpanet, được gọi là “tiền bối” của mạng lưới toàn cầu. Do vậy, WWW là một trong vài ý tưởng hiếm hoi được công khai trước dư luận. Berners-Lee đã thuyết phục Cern áp dụng hệ thống của mình, chứng minh mặt hữu dụng của nó bằng cách kết hợp sổ điện thoại của phòng thí nghiệm vào một bảng chú dẫn trên mạng. Bằng cách này, chuyên gia Berners-Lee chứng tỏ được hệ thống hoạt động xuyên suốt trên các hệ điều hành máy tính. Và nó có khả năng cho phép người dùng nhấp chuột lên các đường dẫn nếu muốn truy cập những máy tính được đặt ở nơi khác. Lúc này, WWW không phải là hệ thống tối ưu nhất, nhưng ưu điểm lớn nhất là miễn phí. Các dịch vụ trực tuyến đối thủ khác như CompuServe tại Mỹ và Minitel của Pháp đều thu phí sử dụng.

Ý tưởng táo bạo giúp chuyên gia trẻ Tim Berners-Lee sáng lập WWW

Ý tưởng táo bạo giúp chuyên gia trẻ Tim Berners-Lee sáng lập WWW – (Ảnh: livejournal.ru).

Năm 1989, Tim cho ra mắt bài viết với tựa đề “Information Management: A Proposal” – Đề xuất về quản lý thông tin, trong đó ông nhấn mạnh rằng tham vọng của ông là hướng đến mạng lưới toàn cầu, khắp nơi trên thế giới cùng kết nối qua mạng lưới chung. Cái tên mà Tim đặt cho đứa con đang thai nghén của mình là “World Wide Web” – hay WWW ngày nay mà ai cũng phải gõ trước khi truy cập một trang web nào đó.

Tuy nhiên, lúc ấy World Wide Web vẫn là một khái niệm rất đỗi mơ hồ, chỉ lưu truyền trong giới “đầu to mắt cận” với nhau. Cho đến năm 1991.

Tim Berners Lee tạo ra công cụ truy cập, tìm kiếm mạng đầu tiên. Trang web đầu tiên trên thế giới http://info.cern.ch cũng ra đời vào ngày 6/8/1991 nhằm giải thích khái niệm World Wide Web tới người dùng.

đến ngày 23/08/1991, WWW chính thức trình làng, cho phép truy cập công cộng từ bất cứ ai, bất cứ già trẻ gái trai, chó mèo lợn gà có khả năng tiếp thu tri thức loài người cho đến ngày hôm nay. Ngày này cũng được đặt tên là “Internaut Day”, ghép từ Internet và Astronaut (phi hành gia), mang ý nghĩa nhân loại tiếp cận với một thế giới mới.

Đến ngày hôm nay, đã có 2.8 tỷ “Internaut” lang thang trên thiên hà mang tên Internet mỗi ngày.

Nhờ có Tim Berners Lee, chúng ta có một mạng Internet để giải trí, để hóng phốt, để thị phi, để bàn xem Mai Ngô ăn được mấy tô cơm thời gian Chúng Huyền Thanh thực hiện thử thách, để xem Minh Nhựa khóc vợ qua Livestream dầm dề tới bao giờ, để biết CR7 thích mặc đầm hay thực ra chỉ thích sơn móng tay, vân vân và mây mây…

Nhờ có Tim Berners Lee, một thế giới mới với đủ hỉ nộ ái ố trần đời mở sồ ra trước mắt và cuốn hết nhân loại vào bên trong. Và nếu bạn đang dính phốt, bạn đang căm thù kẻ kiến tạo ra các trang Web như bây giờ để dân tình bóc phốt bạn, thì bạn đã có một cái tên để nhắm tới!

Đến ngày 23/08/1991, WWW chính thức trình làng.

Đến ngày 23/08/1991, WWW chính thức trình làng.

Những điều thú vị về WWW

• Vào ngày 6/8/1991, website đầu tiên http://info.cern.ch lên mạng.

• NeXT là máy chủ đầu tiên trên thế giới của web, và được dùng để viết trình duyệt web đầu tiên là World Wide Web vào 1990.

• Cha đẻ Berners-Lee tải bức hình đầu tiên lên web vào 1992, chụp ảnh ban nhạc của Cern là Les Horribles Cernettes.

• WWW đã đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử với việc triển khai trình duyệt web Mosaic vào năm 1993. Đây là trình duyệt đồ họa của Đại học Illinois.

• Archie được xem là cỗ máy tìm kiếm đầu tiên trên internet.

• Phim ảnh khiêu dâm chiếm phần lớn trên web, nhưng website đầu tiên mang đuôi miền .xxx đầu tiên lên mạng vào tháng 8/2011.

• Internet và web thường bị nhầm lẫn là hai khái niệm đồng nhất.

Internet chỉ mạng lưới cơ sở hạ tầng rộng lớn kết nối hàng triệu máy tính trên toàn thế giới với nhau, còn WWW là tập hợp các trang văn bản, ảnh kỹ thuật số, tập tin âm nhạc, video, hoạt ảnh, mà người dùng có thể truy cập trên internet.

Cập nhật: 05/09/2016

Theo Thanh Niên/Trí Thức Trẻ

Linux OS là gì? Lịch sử phát triển của Linux.

  1. LINUX LÀ GÌ

Linux là một hệ điều hành máy tính giống Unix (Unix-Like) được phát được phát triển dựa vào mô hình “Phần mềm tự do” và việc phát triển phần mềm mã nguồn mở. Thành phần cơ bản của Linux là hạt nhân Linux (thường được gọi là nhân Linux – Linux kernel), là nhân hệ điều hành được phát triển bởi Linus Torvalds được công bố lần đầu tiên vào tháng 9 năm 1991 với phiên bản 0.01.

  1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA LINUX

1.Lịch sử của Unix

  • Năm 1965, Viện công nghệ Massachusetts (MIT: Massachusetts Institute of Technology) và Phòng thí nghiệm Bell của hãng AT&T thực hiện dự án xây dựng một hệ điều hành có tên gọi là Multics (MULTiplexed Information and Computing Service) với mục tiêu: tạo lập được một hệ điều hành phủ trên vùng lãnh thổ rộng (hoạt động trên tập các máy tính được kết nối), đa người dùng, có năng lực cao về tính toán và lưu trữ. Dự án nói trên thành công ở mức độ hết sức khiêm tốn và người ta đã biết đến một số khiếm khuyết khó khắc phục của Multics.
  • Năm 1969, Ken Thompson, một chuyên viên tại phòng thí nghiệm Bell, người đã tham gia dự án Multics, cùng Dennics Richie viết lại hệ điều hành đa-bài toán trên máy PDP-7 với tên là UNICS (UNiplexed Information and Computing Service) từ một câu gọi đùa của một đồng nghiệp. Trong hệ điều hành UNICS, một số khởi thảo đầu tiên về Hệ thống file đã được Ken Thompson và Dennis Ritchie thực hiện. Đến năm 1970 hệ điều hành được viết trên assembler cho máy PDP-11/20 và mang tên là UNIX.
  • Năm 1973, Riche và Thompson viết lại nhân của hệ điều hành UNIX trên ngôn ngữ C, và hệ điều hành đã trở nên dễ dàng cài đặt tới các loại máy tính khác nhau; tính chất như thế được gọi là tính khả chuyển (portable) của UNIX. Trước đó, khoảng năm 1971, hệ điều hành được thể hiện trên ngôn ngữ B (mà dựa trên ngôn ngữ B, Ritche đã phát triển thành ngôn ngữ C).
  • Hãng AT&T phổ biến chương trình nguồn UNIX tới các trường đại học, các công ty thương mại và chính phủ với giá không đáng kể.
  • Năm 1982, hệ thống UNIX-3 là bản UNIX thương mại đầu tiên của AT&T.
  • Năm 1983, AT&T giới thiệu Hệ thống UNIX-4 phiên bản thứ nhất trong đó đã có trình soạn thảo vi, thư viện quản lý màn hình được phát triển từ Đại học Tổng hợp California, Berkley.
  • Giai đoạn 1985-1987, UNIX-5 phiên bản 2 và 3 tương ứng được đưa ra vào các năm 1985 và 1987. Trong giai đoạn này, có khoảng 100000 bản UNIX đã được phổ biến trên thế giới, cài đặt từ máy vi tính đến các hệ thống lớn.
  • Đầu thập kỷ 1990. UNIX-5 phiên bản 4 được đưa ra như là một chuẩn của UNIX. Đây là sự kết hợp của các bản sau:
  1. AT&T UNIX-5 phiên bản 3,
  2. Berkley Software Distribution (BSD),
  3. XENIX của Microsoft
  4. SUN OS

Các nhóm nhà cung cấp khác về UNIX đang hoạt động trong thời gian hiện nay được kể đến như sau:

  • Unix International (viết tắt là UI). UI là một tổ chức gồm các nhà cung cấp thực hiện việc chuyển nhượng hệ thống UNIX-5 và cung cấp bản AT&T theo các nhu cầu và thông báo phát hành mới, chẳng hạn như điều chỉnh bản quyền. Giao diện đồ họa người dùng là Open Look.
  • Open Software Foundation (OSF). OSF được hỗ trợ bởi IBM, DEC, HP … theo hướng phát triển một phiên bản của Unix nhằm tranh đua với hệ thống UNIX-5 phiên bản 4. Phiên bản này có tên là OSF/1 với giao diện đồ họa người dùng được gọi là MOTIF.
  • Free Software Foundation (FSF): một cộng đồng do Richard Stallman khởi xướng năm 1984 chủ trương phát hành các phần mềm sử dụng tự do, trên cơ sở một hệ điều hành thuộc loại UNIX
  1. Lịch sử Linux.

– Ngày 5/4/1991, Linus Torvalds, chàng sinh viên 21 tuổi của trường Đại học Helsinki, Phần Lan đã bắt tay vào viết những dòng lệnh đầu tiên của Linux.

– Tháng 8/1991, Torvalds gửi đi thông điệp đã trở thành nổi tiếng sau này về sự ra đời của Linux: “Tôi đang làm một hệ điều hành miễn phí (chỉ làm theo sở thích, và sẽ không lớn và chuyên nghiệp)”. Ngay chính Torvalds cũng không ngờ đến sự thành công của Linux như ngày hôm nay.

– Tháng 9/1991, phiên bản Linux 0.01, phiên bản Linux đầu tiên được Torvalds công bố, với 10.239 dòng lệnh. Phiên bản 0.02 được ra mắt 1 tháng sau đó.

– Năm 1992, Torvals đã có một quyết định được cho là đúng đắn khi phát hành Linux dưới dạng mã nguồn mở của giấy phép GPL, cho phép tất cả mọi người có quyền download về để xem mã nguồn để cung chung tay phát triển. Đây được xem là quyết định đã giúp Linux có được sự phổ biến như ngày nay.

– Năm 1993, Slackware, hệ điều hành đầu tiên phát triển dựa trên mã nguồn Linux được ra đời. Slackware là một trong những hệ điều hành Linux đầu tiên và có tuổi đời lâu nhất hiện nay. Phiên bản mới nhất của Slackware được công bố vào tháng 5/2010.

  • Ngày 14/3/1994, sau 3 năm làm việc miệt mài, Torvalds cho ra mắt phiên bản hoàn thiện đầu tiên, Linux 1.0 với 176.250 dòng lệnh. 1 năm sau đó, phiên bản 1.2 ra mắt với 310.950 dòng lệnh.
  • Ngày 3/11/1994, Red Hat Linux, phiên bản 1.0 được giới thiệu. Đây là một trong những hệ điều hành được thương mại hóa đầu tiên dựa trên Linux.
  • Năm 1996, Linus Torvalds ghé thăm công viên hải dương học, tại đây, ông đã quyết định sử dụng hình ảnh chú chim cánh cụt để làm biểu tượng chính thức của Linux.
  • Năm 1998, Linux bắt đầu được các “ông lớn” công nghệ quan tâm và đầu tư để phát triển. Nổi bật trong số đó là IBM. Công ty này đã đầu tư hàng tỉ USD để phát triển các dịch vụ và phần mềm trên nền tảng Linux, với đội ngũ nhân viên phát triển hơn 300 người. Ngoài IBM, Compaq và Oracle cũng bắt đầu đầu tư và phát triển Linux.
  • Năm 2005, Linus Torvalds được xuất hiện trên trang bìa của tạp chí về kinh tế BusinessWeek, với câu chuyện về sự thành công của hệ điều hành Linux.
  • Năm 2007, hàng loạt hãng sản xuất máy tính lớn như HP, ASUS, Dell, Lenovo bắt đầu bán ra các sản phẩm laptop được cài đặt sẵn Linux.
  • Tính đến thời điểm hiện tại, Linux đã có rất nhiều biến thể và phiên bản khác nhau, được xây dựng và phát triển riêng biệt bởi các công ty phần mềm và các cá nhân. Nổi bật trong số đó chính là hệ điều hành di động Android của Google, hiện là một trong những hệ điều hành thông dụng nhất hiện nay.
  • Đến tháng 1/2009, số người dùng Linux trên toàn cầu đạt mốc 10 triệu người.
  • Hiện nay, sau 20 năm tồn tại và phát triển, Linux được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, trên các máy tính cá nhân, các máy chủ, đến các thiết bị di động, máy nghe nhạc, máy tính bảng, các máy ATM và thậm chí trên cả các siêu máy tính…
  • Từ phiên bản đầu tiên với hơn 10 ngàn dòng lệnh, ngày 14/3/2011, sau 20 năm tồn tại và phát triển, nền tảng Linux 2.6.38 được phát hành, với 14.294.493 dòng lệnh, đánh dấu một chặng đường tồn tại và phát triển lâu dài của Linux.
  • Ngày nay, Linux được xem là biểu tượng của sự chia sẻ cộng đồng, được phát triển bởi cộng đồng và được ủng hộ vì hoàn toàn miễn phí. Linux được xem là sự đối địch của Windows (Microsoft), bởi nhiều người cho rằng, với Microsoft tất cả chỉ có lợi nhuận.

10 câu lệnh quản trị của Linux mà bạn nên biết

Chúng ta luôn nói rằng công cụ mạnh mẽ nhất của Linux chính là những dòng lệnh. Đó là bởi vì bạn có thể làm được mọi thứ từ chính dòng lệnh của bạn. Bạn có thể dễ dàng giải thích máy tính của mình chính xác những gì mà bạn yêu cầu và nó sẽ trả lại cho bạn kết quả phù hợp. Thực tế, đây là những dòng lệnh khiến công cụ này thậm chí thêm mạnh mẽ hơn! Sau đây mình sẽ mang đến cho các bạn danh sách liệt kê 10 dòng lệnh được ví như thức uống tăng lực cho cỗ máy Linux của bạn.

  1. Chạy lệnh cuối cùng là gốc
sudo !!

Nếu bạn muốn mở file để thay đổi và ngay khi bạn muốn lưu nó lại, bạn lại nhận ra rằng mình quên mất không mở nó với quyền gốc.Không có gì phải lo lắng cả.Câu lệnh trên sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề.

  1. Tìm địa chỉ IP ngoài của bạn.
curl ifconfig.me
  1. Chạy câu lệnh trước với việc thay thế “foo” thành “bar”
^foo^bar

Hoặc bạn có thể dùng câu lệnh tương tự bên dưới:

!!:gs/foo/bar

Cũng sau khi chạy 1 lệnh dài, nếu bạn nhận ra rằng bạn gõ sai, câu lệnh này sẽ giúp bạn sửa lại từ đó trong suốt quá trình gõ câu lệnh, không như câu lệnh trước, chỉ có thể thay thế foo.

  1. Tự động làm trống 1 số file mà không gỡ bỏ chúng
> file.txt
  1. Lệnh thực thi mà không lưu trong history
command
  1. Cách làm nhanh để copy hoặc sao lưu 1 file trước khi bị chỉnh sửa
cp filename{, .bak}
  1. Traceroute là câu lệnh hay nhưng làm thế nào để công cụ chẩn đoán mạng đơn có thể kết hợp traceroute với ping ? Đơn giản chính là câu lệnh mtr
mtr efytimes.com
  1. Xoá màn hình thiết bị đầu cuối
ctrl-l
  1. Danh sách câu lệnh bạn thường xuyên sử dụng
[I]history | awk ‘{a[$2]++}END{for(i in a){print a ” ” i}}’ | sort -rn | head
  1. Lưu lại file bản chỉnh sửa trong vim/vi mà không cần sự cho phép
:w !sudo tee %

30 bài tập Pascal – Có đáp án

1) Viết chương trình Pascal sắp xep 2 số nguyên

Program sap_xep;
Var
    so1,so2,tam:Integer;
Begin
    Write('-Nhap so thu nhat: ');
    Readln(so1);
    Write('-Nhap so thu hai : ');
    Readln(so2);
    If so1 > so2 Then
        Begin
            tam:=so1;
           so1:=so2;
           so2:=tam;
       End;
    Writeln;
    Writeln('Ban vua nhap cac so sau');
    Writeln(so1:10);
    Writeln(so2:10);
    Readln
End.

2) Viết chương trình Pascal tìm số lớn nhất trong 2 số nguyên (dùng If thiếu)

Program So_lon;
Var
    so1,so2:Integer;
Begin
    Writeln('TIM SO LON NHAT TRONG 2 SO NGUYEN');
    Writeln('---------------------------------');
    Write('-Nhap so thu nhat: ');
    Readln(so1);
    Write('-Nhap so thu hai : ');
    Readln(so2);
    If so1 > so2 Then
        Writeln('+So thu nhat la so lon nhat');
    If so2 > so1 Then
        Writeln('+So thu hai la so lon nhat');
    Writeln;
    Writeln('Bam phim <Enter> de ket thuc');
    Readln
End.

3) Viết chương trình Pascal tìm số lớn nhất trong 2 số nguyên (dùng If đủ)

Program So_lon;
Var
    so1,so2:Integer;
Begin
    Writeln('TIM SO LON NHAT TRONG 2 SO NGUYEN');
    Writeln('---------------------------------');
    Write('-Nhap so thu nhat: ');
    Readln(so1);
    Write('-Nhap so thu hai : ');
    Readln(so2);
    If so1 > so2 Then
        Writeln('+So thu nhat la so lon nhat')
    Else
        Writeln('+So thu hai la so lon nhat');
    Writeln;
    Writeln('Bam phim <Enter> de ket thuc');
    Readln
End.

4) Viết chương trình Pascal tìm số lớn nhất trong 3 số nguyên (dùng If thiếu)

Program So_lon;
Var
    so1,so2,so3,solon:Integer;
Begin
    Writeln('TIM SO LON NHAT TRONG 3 SO NGUYEN');
    Writeln('      Cau truc If thieu');
    Writeln('---------------------------------');
    Write('-Nhap so thu nhat: ');
    Readln(so1);
    Write('-Nhap so thu hai : ');
    Readln(so2);
    Write('-Nhap so thu ba  : ');
    Readln(so3);
    If so1 < so2 Then
        solon:=so2;
    If so2 < so3 Then
        solon:=so3;
    If so3 < so1 Then
        solon:=so1;
    Writeln;
    Writeln('+So lon nhat trong 3 so la: ',solon);
    Writeln;
    Writeln('Bam phim <Enter> de ket thuc');
    Readln
End.

5) Viết chương trình Pascal tìm số lớn nhất trong 3 số nguyên (dùng If đủ)

Program So_lon;
Var
    so1,so2,so3,solon:Integer;
Begin
    Writeln('TIM SO LON NHAT TRONG 3 SO NGUYEN');
    Writeln('      Cau truc If du');
    Writeln('---------------------------------');
    Write('-Nhap so thu nhat: ');
    Readln(so1);
    Write('-Nhap so thu hai : ');
    Readln(so2);
    Write('-Nhap so thu ba  : ');
    Readln(so3);
    If so1 < so2 Then
        solon:=so2
    Else
        solon:=so1;
    If solon < so3 Then
        solon:=so3;
    Writeln;
    Writeln('+So lon nhat trong 3 so la: ',solon);
    Writeln;
    Writeln('Bam phim <Enter> de ket thuc');
    Readln
End.

6) Viết chương trình Pascal tìm số lớn nhất trong 4 số nguyên

Program So_lon;
Var
    so1,so2,so3,so4,solon1,solon2,solon:Integer;
Begin
    Writeln('TIM SO LON NHAT TRONG 4 SO NGUYEN');
    Writeln('Cau truc If...Then...Else');
    Writeln('-------------------------');
    Write('-Nhap so thu nhat: ');
    Readln(so1);
    Write('-Nhap so thu hai : ');
    Readln(so2);
    Write('-Nhap so thu ba  : ');
    Readln(so3);
    Write('-Nhap so thu tu  : ');
    Readln(so4);
    If so1 > so2 Then
        solon1:= so1
    Else
        Solon1:=so2;
    If so3 > so4 Then
        solon2:=so3
    Else
        solon2:=so4;
     If solon1 > solon2 Then
         solon:=solon1
     Else
         solon:=solon2;
     Writeln;
     Writeln('+So lon nhat trong 4 so la: ',solon);
     Writeln;
     Writeln('Bam phim <Enter> de ket thuc');
     Readln
End.

7) Viết chương trình Pascal cộng thêm giây vào giờ hiện hành

Program Cong_giay;
Var
    gio,phut,giay,them:Integer;
Begin
    Writeln('CONG THEM GIAY VAO GIO HIEN HANH');
    Writeln('--------------------------------');
    Writeln('Nhap vao gio:phut:giay hien hanh');
    Write('-Gio    : ');
    Readln(gio);
    Write('-Phut: ');
    Readln(phut);
    Write('-Giay: ');
    Readln(giay);
    Write('-Cho biet so giay muon cong them: ');
    Readln(them);
    If (giay+them) < 60 Then
        giay:=giay+them
    Else
        Begin
          giay:=((giay+them)-60);
          phut:=phut+1;
          If phut >=60 Then
             Begin
                phut:=phut-60;
                gio:=gio+1;
             End;
       End;
    Writeln;
    Writeln('+Sau khi cong them so giay vao, gio moi la:');
    Writeln('         ',gio,' : ',phut,' : ',giay);
    Writeln;
    Writeln('Bam phim <Enter> de ket thuc');
    Readln
End.

Continue reading 30 bài tập Pascal – Có đáp án

Bootloader và những vấn đề cần chú ý

Nếu như bạn chỉ dùng một hệ điều hành thì có lẽ không cần phải bận tâm đến khái niệm bootloader lắm. Tuy nhiên, mọi việc sẽ trở nên phức tạp khi bạn sử dụng nhiều hệ điều hành, và nhất là cài song song nhiều hệ điều hành trên cùng một máy tính. Do đó, việc tìm hiểu về bootloader sẽ giúp cho bạn làm chủ chiếc máy tính của mình tốt hơn.

Bài viết này sẽ tóm gọn những khái niệm cơ bản nhất về bootloader. Hãy lưu ý rằng nghiên cứu bootloader thực sự rất đau đầu nên bạn sẽ cần sự kiên nhẫn để hiểu những gì mình sẽ trình bày dưới đây. Rất mong sự ủng hộ từ các bạn.

  1. Bootloader là gì: Bootloader(tiếng Việt:  bộ nạp khởi động), “cái tên đã nói lên tất cả rồi phải không” là chương trình được khởi động đầu tiên khi máy tính của bạn được bật, công dụng của nó là gọi hệ điều hành chỉ định. Nó giống như một hệ điều hành con, quản lí tất cả các hệ điều hành trong máy của bạn và cho phép bạn khởi động vào hệ điều hành bạn cần.

=> Không có bootloader, hệ điều hành sẽ không thể khởi động được.

  1. Vị trí đặt bootloader:

Một máy tính có thể được cài nhiều bootloader. Bootloader được đặt ở một trong các vị trí sau đây:

  • Đặt trực tiếp trên một đĩa cứng
  • Đặt trên một phân vùng của một đĩa cứng

Lưu ý:  Tại mỗi vị trí, chỉ có thể đặt được một bootloader tại một thời điểm. Nếu bạn cài bootloader vào vị trí đã được cài trước một bootloader nào đó thì bootloader mới sẽ thay thế bootloader cũ. Khi bạn format hay xóa một phân vùng thì bootloader đặt trên nó sẽ bị mất đi.

  1. Máy tính sẽ được khởi động từ bootloader nào?
  • Mặc định, máy tính sẽ được khởi động từ đĩa cứng nằm ở vị trí đầu tiêntrong BIOS.
  • Nếu trên đĩa cứng có bootloader thì bootloader đó sẽ được nạp, tất cả các bootloader của phân vùng sẽ bị bỏ qua.
  • Nếu trên đĩa cứng không có bootloader thì:
    1. Nếu máy chuẩn Legacy-MBR: Bootloader của phân vùng đã được Set Active sẽ được nạp. Phân vùng được Set Active tất nhiên phải là Primary thì bootloader của nó mới nạp được. Sử dụng các công cụ như MiniTool Partition Wizard đểSet Active cho phân vùng.
    2. Nếu máy chuẩn UEFI-GPT: Bootloader của phân vùng FAT32 đầu tiên trên đĩa cứng sẽ được nạp.
  1. Cài đặt bootloader như thế nào?

Bootloader sẽ tự động được cài đặt khi bạn cài đặt một hệ điều hành nào đó. Ngoài ra, bootloader cũng có thể được cài thủ công bằng những công cụ thông dụng:  EasyBCD, GrubCustomizer

CÁC VẤN ĐỀ THÔNG DỤNG VỀ BOOTLOADER

*) Mối quan hệ giữa bootloader và hệ điều hành trong máy là gì?

Để hệ điều hành trong máy của bạn khởi động, trước tiên, bạn cần phải có bootloader hỗ trợ boot vào hệ điều hành đó. Thường thì khi cài đặt hệ điều hành, nó sẽ tự cài bootloader phù hợp cho bạn luôn.

*) Sự ràng buộc với bootloader khi cài song song nhiều hệ điều hành là gì?

Để cài song song nhiều hệ điều hành thì bootloader bạn sử dụng phải hỗ trợ khởi động vào tất cả các hệ điều hành, hoặc hỗ trợ chuyển hướng tới một bootloader khác mà bootloader đó hỗ trợ hệ điều hành ta cần.

Ví dụ:  Trên máy tôi có 3 phân vùng A, B, CPhân vùng A chứa Windows 8, Phân vùng B chứa Windows 7, Phân vùng C chứa Linux. Tôi muốn dualboot 3 hệ điều hành này thì sẽ làm như sau:

  • Tạo bootloader Windows 8 trên phân vùng A, bootloader này sẽ có nhiệm vụ cho phép khởi động vào Windows 8 hoặc Windows 7.
  • Tạo bootloader Grub trên toàn đĩa cứng, bootloader này có nhiệm vụ khởi động vào Linux, hoặc chuyển hướng tới bootloader Windows 8 đang nằm trên phân vùng A.

Vậy tôi có kết quả như sau:

  • Khi khởi động, tôi sẽ được chuyển tới bootloader GRUB, trên menu GRUB sẽ có 2 tùy chọn:
    1. Vào Linux
    2. Vào Windows 8 Loader
  • Nếu tôi vào Windows 8 Loader thì sẽ có 2 tùy chọn tiếp theo:
    1. Vào Windows 8
    2. Vào Windows 7

*) Vì sao khi cài song song nhiều hệ điều hành lại phải cài “từ cũ đến mới”?

Việc cài từ cũ đến mới là hoàn toàn đúng, tuy nhiên có nhiều bạn vẫn không hiểu bản chất lý do vì sao phải làm vậy, chỉ biết là làm vậy thì mới khởi động được vào tất cả các hệ điều hành mà thôi!

Thực ra bản chất vấn đề là do Bootloader được cài sẵn khi bạn cài mỗi một hệ điều hành mà thôi! Khi bạn cài một hệ điều hành, thì hệ điều hành đó sẽ cài bootloader cho bạn, sau đó, hệ điều hành sẽ quét và tìm xem trên máy bạn đã được cài sẵn hệ điều hành hoặc bootloader nào, sao đó cập nhật vào bootloader mới nhất. Do đó, bootloader của hệ điều hành cài sau phải đáp ứng nhu cầu là nhận diện được hết các bootloader cũ và bootloader của hệ điều hành cài trước. Thế nên mới sinh ra cái nguyên tắc cài từ cũ đến mới!

Tuy nhiên, trên thực tế, không nhất thiết phải cài từ cũ đến mới mới có thể dual-boot được. Ví dụ đơn giản:  Ubuntu 12.04 và Windows 8.1 Update 1! Ngay cả khi bạn cài Ubuntu 12.04 sau khi cài Windows 8.1 Update 1, bạn vẫn có thể dual-boot vào cả 2 hệ điều hành! Vì sao? Vì Ubuntu 12.04 mặc định sử dụng Bootloader GRUB 1.99, mà bootloader này thì lại nhận diện thành công bootloader Windows 8.1 Update 1!

Ngay cả khi bootloader ta sử dụng không nhận diện được mọi bootloader và hệ điều hành khác, ta vẫn có thể tự cài một bootloader mới, đáp ứng nhu cầu của chúng ta! Vậy, vấn đề ở đây không phải do hệ điều hành cũ hay mới mà là do bootloader chúng ta sử dụng có hỗ trợ khởi động vào tất cả các hệ điều hành hay không thôi!

=> Vậy ta có thể thấy việc quản lí bootloader có ý nghĩa quan trọng trong việc cài song song 2 hay nhiều hệ điều hành.

*) Có cần phải cài bootloader cùng vị trí với phân vùng cài đặt hệ điều hành không?

Câu trả lời là:  KHÔNG! Bootloader chỉ có tác dụng nạp hệ điều hành, và hệ điều hành này có thể nằm ở bất kỳ vị trí nào, không phụ thuộc vị trí của bootloader. Ví dụ đơn giản:  Cài bootloader lên toàn đĩa cứng. Đó là bootloader Global chứ có thuộc về một phân vùng nào đâu.

*) Vì sao khi cài Linux xong rồi sau đó cài Windows thì không khởi động được vào Windows?

Mình nghĩ bạn đã đọc từ đầu đến đây rồi thì cũng biết một phần câu trả lời rồi phải không? Không phải do chuyện cũ mới, mà là do bootloader của 2 hệ điều hành mà thôi!

Cụ thể là trong tình huống này, Linux và Windows cài bootloader vào 2 vị trí khác nhau:
– Linux mặc định cài bootloader trên toàn đĩa cứng.
– Windows lại thường cài mặc định bootloader trên một phân vùng gọi là Reserved Partition (hoặc cài trên chính phân vùng cài đặt), sau đó Set Active cho phân vùng đó.

Và từ đó, chúng ta hiểu ra nguyên nhân vấn đề:  Do bạn cài Linux nên Linux đã cài trước một bootloader trên toàn đĩa cứng rồi, như vậy việc tạo boot cho phân vùng và set active phân vùng của Windows không còn ý nghĩa nữa.

Giải pháp:  Hoặc là bạn vào Linux cập nhật Bootloader GRUB để nó nhận diện Bootloader Windows mới được cài thêm, hoặc là nếu bạn thích dùng Windows 8 Loader làm mặc định, thì xóa bootloader trên toàn đĩa cứng đi, tạo một Bootloader GRUB mới trên một phân vùng khác, rồi vào Windows để cập nhật Windows 8 Loader.

*) Sự tồn tại của Bootloader có liên quan đến sự tồn tại của một hệ điều hành?

Câu trả lời là KHÔNG LIÊN QUAN. Có hệ điều hành ắt phải có bootloader nhưng có bootloader không có nghĩa là có hệ điều hành! Ví dụ rất đơn giản:  Bạn cài Linux vào phân vùng A nhưng bootloader lại đặt ở phân vùng B, sau này bạn không thích dùng Linux nữa nên xóa phân vùng A đi thì cái bootloader ở phân vùng B vẫn còn, và lúc này nếu ta boot vào bootloader này thì báo lỗi. Có thể sau này nếu ta cài một bootloader khác thì cái bootloader đó lại nhận diện được bootloader của phân vùng B này, nhiều bạn sẽ lầm tưởng là bản Linux chúng ta xóa đi trước kia vẫn còn, nhưng nó đã bị xóa hoàn toàn, cái bạn nhìn thấy chỉ là bộ nạp khởi động đã được cài vào đó thôi.

Nói chung là chỉ có thực nghiệm mới giúp chúng ta thực sự thấu hiểu về bootloader. Nằm cứng về bootloader sẽ giúp chúng ta quản lí tốt hơn việc khởi động vào các hệ điều hành, và đặc biệt là việc dual-boot trên chuẩn UEFI-GPT mới hiện nay. Cảm ơn tất cả đã đọc bài viết này!

SuperIT4444.WordPress.com

Nguồn: jeremietrung.blogspot.com

Các vấn đề về cài đặt Linux

CÁC PHƯƠNG PHÁP CÀI ĐẶT LINUX

Theo như mình biết thì hiện nay có 3 phương pháp cài Linux chính:

  1. Cài đặt trực tiếp trên Windows:Với phương pháp này, Linux sẽ được cài trực tiếp trên Windows bằng bộ cài dành riêng cho Windows, và Linux sẽ trở thành 1 phần mềm của Windows. Bạn có thể gỡ bỏ Linux bằng Add/Remove Programs.

– Ưu điểm: Quá trình cài đặt nhanh, đơn giản, dễ dàng cho những bạn mới.

– Nhược điểm: Linux trở thành một phần của Windows? Điều này thực sự không “thoải mái” một tí nào hết khi em Linux nhà ta phải phụ thuộc vào một hệ thống khác, bởi ai cũng muốn Linux trở thành một hệ thống độc lập, chứ không phải là con em của Windows. Hơn nữa, việc cài Linux như một phần mềm của Windows cũng gây khó khăn cho việc quản lí phân vùng.

  1. Cài đặt bằng CD/DVD:Đây là cách truyền thống. Tất cả những gì bạn cần làm là ghi file cài đặt ra đĩa, rồi cài đặt từ chiếc đĩa này.

– Ưu điểm: Vô cùng đơn giản. Bạn chỉ việc chuẩn bị một chiếc đĩa là đã có thể tung hoành bốn phương rồi.

– Nhược điểm: Tốc độ đọc của đĩa CD/DVD là khá chậm, vì thế quá trình cài đặt thường diễn ra rất lâu. Hơn nữa, đĩa CD/DVD rất dễ bị hỏng, bị xước nên khó bảo quản.

  1. Cài đặt bằng USB:Đây là phương pháp cải tiến từ phương pháp cài bằng đĩa CD/DVD. Thay vì ghi bộ cài ra đĩa thì chúng ta dùng một chiếc USB để cài đặt.

– Ưu điểm: USB có tính cơ động cao hơn, tốc độ đọc cũng nhanh hơn, vì thế chúng ta có thể linh hoạt hơn trong quá trình cài đặt, và việc cài đặt chắc chắn là nhanh hơn. Có một điểm hơn dùng đĩa đó là nếu USB mà bị hỏng thì triệu chứng rất rõ ràng, nhưng đĩa mà hỏng thì mới thực sự là “ác mộng” với các bác kĩ thuật viên, vì đĩa xước thì chả ai biết được dữ liệu bị corrupt chỗ nào để mà phòng tránh.

– Nhược điểm: Việc tích hợp bộ cài vào USB là tương đối khó khăn, và cũng như đĩa CD/DVD, USB cũng cần được bảo quản. Việc để cho USB hoạt động hết công suất trong thời gian dài có thể làm cho USB bị nóng và ảnh hưởng đến chất lượng USB.

=> Như vậy, sau khi tổng hợp được 3 cách cài đặt và phân tích ưu nhược điểm của từng cách, mình thấy phương pháp cài đặt thứ 3 là phù hợp nhất ở thời điểm hiện tại.

– Đối với phương pháp thứ nhất: cài Linux thành một phần của Windows, mặc dù có rất nhiều ưu điểm nhưng khả năng tùy biến lại không được cao, việc biến Linux thành một phần của Windows không phải là điều mà nhiều người mong muốn, vì mọi người thường muốn nó trở thành một hệ thống hoàn toàn độc lập. Hơn nữa, phương pháp này lại đòi hỏi người dùng muốn cài thì phải có một bản Windows tích hợp sẵn trong máy, vậy thì nếu người dùng chỉ muốn sử dụng Linux thì phương pháp cài này không thể đáp ứng được.

– Đối với phương pháp thứ hai: cài Linux từ CD/DVD, đây là một phương pháp truyền thống nhưng không còn phù hợp ở thời điểm hiện tại nữa. Bởi CD/DVD đã dần biến mất khi USB lên ngôi thống trị. USB đã khắc phục được một phần nhược điểm của CD/DVD, mà có tất cả các ưu điểm mà CD/DVD mang lại, vậy tại sao chúng ta không dùng USB thay cho CD/DVD nhỉ?

– Đối với phương pháp thứ ba: cài đặt Linux từ USB, phương pháp này chỉ có một nhược điểm duy nhất là việc tích hợp bộ cài đặt vào USB khá là rắc rối, nhưng không phải là không có cách. Tuy nhiên, những ưu điểm tuyệt vời mà nó mang lại thì xứng đáng để cho chúng ta áp dụng.

Do đó, bài viết này sẽ hướng dẫn trọng tâm dựa trên phương pháp cài đặt Linux từ USB. Tuy nhiên, xét về mặt bản chất, thì cho dù bạn cài từ USB hay CD/DVD thì quá trình cài đặt vẫn tương tự nhau, chỉ khác nhau công cụ bạn sử dụng mà thôi. Còn việc cài đặt trực tiếp trên Windows, thì mình khuyến cáo là không nên, vì việc phải đem một hệ thống Windows ra làm nền thực sự không thoải mái một chút nào hết.

CHUẨN BỊ NHỮNG CÔNG CỤ CẦN THIẾT

Những gì là cần thiết?

Nhiều bạn cài Linux mà chỉ mang theo mỗi cái USB chứa bộ cài Linux lại không có khả năng boot vào Live System, lại cài đè lên Windows luôn, điều nay tạo ra rủi ro cực kỳ cao. Vì đến lúc chia ổ bạn mới thấy vấn đề phát sinh, bạn sẽ cảm thấy lúng túng khi công cụ chia ổ mặc định không đáp ứng đủ các tính năng cần thiết mà bạn cần, và đến lúc cài đặt mà có vấn đề gì đó (phát hiện ổ cứng bị bad nên không thể cài được chẳng hạn), thì bạn coi như bị chết đứng. Vì Windows đã bị format, USB không boot live được, đĩa cứu hộ không mang theo, bạn sẽ xử lí thế nào đây?

Hôm trước, mình có dùng thử Antergos, quá trình cài đặt diễn ra hoàn toàn thuận lợi, cài phần mềm chạy trơn tru không vấn đề gì, cứ tưởng thể là xong, ai ngờ restart lại thì tá hỏa vì máy không thể boot được. Nếu là bạn thì bạn sẽ làm gì? Mình thì không phải lo lắng gì cả. Đầu tiên, mình thử dùng chính USB cài đặt Antergos boot vào Live System, sau khi vọc đủ mọi loại tài liệu mà không giải quyết được, mình quyết định cài lại Ubuntu. Tiếp đến, mình phát hiện ra Antergos Live USB không hỗ trợ cài đặt thêm package, trong khi mình đang thiếu package cần thiết để chạy Unetbootin, mình restart lại và chuyển qua Mini Windows XP trên đĩa Hirens’ Boot CD ngay. Rất may là với công cụ Win32 Disk Imager, mình đã tạo thành công USB cài đặt Ubuntu và tiến hành cài lại. Vấn đề đã được giải quyết!

=> Nguyên tắc số 1 khi cài Linux là: Luôn tạo ra cho mình một “cửa hậu” để đề phòng trường hợp xấu nhất.

Vì thế mình khuyên các bạn nên chuẩn bị trước 2 cái USB: 1 cái USB dùng để cài Linux và boot Live System, cái USB thứ 2 chứa 1 đĩa cứu hộ nào đó. Bạn cần đảm bảo 2 chiếc USB hoạt động tốt trong mọi tình huống.

>>> Cách tạo một chiếc USB cài đặt Linux

  1. Chuẩn bị:

a) Một chiếc USB định dạng chuẩn FAT32

+ Dung lượng: Tùy theo Distro bạn muốn cài. USB dung lượng lớn thì sẽ tích hợp được bộ cài lớn. Để biết gần chính xác dung lượng của bộ cài bạn xem dung lượng file ISO của distro, từ đó chọn USB phù hợp. Lưu ý rằng dung lượng thực có thể lớn hơn file ISO (vì file ISO có thể được nén) nên bạn cũng cần chọn USB có dung lượng lớn hơn. Vì thế mình khuyên sử dụng USB 8 GB trong hầu hết trường hợp.

b) File cài đặt Linux Distro

File cài đặt Distro thường có định dạng ISO (số ít có định dạng IMG). Đây là tệp tin được sử dụng để ghi ra đĩa, tạo đĩa ảo hoặc tích hợp USB phục vụ việc cài đặt. Bạn Download tệp tin này trên trang chủ của Distro bạn muốn.

Nếu bạn chưa tìm được distro phù hợp với mình bạn có thể tham khảo trang http://distrowatch.com/. Đây là một trang tổng hợp và giới thiệu các Distro của Linux, rất hữu ích cho những bạn mới sử dụng và cả những bạn muốn tìm hiểu thêm về các distro mới.

Các bạn lưu ý: Các Distro sau thuộc dạng khó sử dụng, và các bạn mới sử dụng thì nên tránh. Mặc dù đây là những distro hay nhất của Linux nhưng nếu các bạn chưa biết gì mà ham hố cài nó thì có thể sẽ gặp rắc rối đấy: Debian, Arch Linux, Kali Linux, Backtrack.

Nhiều bạn hỏi “thế nào là khó sử dụng?”: Mình xin trả lời là nếu các bạn xài những Distro như Zorin, Linux Mint, Ubuntu, thì hầu như cái gì cũng có sẵn cho bạn, cái gì chưa có thì đã có trong App Store, các bạn chỉ cần mất khoảng 30 phút cho việc cài đặt và tùy chỉnh là xài vô tư đúng không? Nhưng các Distro mình kể bên trên thì không dễ như vậy đâu. Bạn muốn biết thế nào? Mình là một người chúa ghét nói trước đoạn kết nên bạn cứ… Dùng thử sẽ biết.

  1. Tiến hành tích hợp bộ cài Linux vào USB:

Đây là bước rất quan trọng vì nếu tích hợp không đúng cách thì USB sẽ không có khả năng boot. Và nhân tiện cũng xin lưu ý luôn là sau khi tích hợp xong bộ cài vào USB, bạn cần kiểm tra ngay lập tức xem có khởi động được từ USB hay không, rồi mới tiến hành các bước tiếp theo, nhiều bạn đã chuẩn bị xong xuôi hết rồi mới tá hỏa là cái USB nó không chịu boot, lúc này lại phải delay lại cả quá trình cài để tìm cách khắc phục sự cố.

Nói chung ở thời điểm hiện tại thì việc tích hợp bộ cài distro vào USB được thực hiện bằng các công cụ 1-Click nên khá là đơn giản, chứ ngày xưa tích hợp bằng tay thì vất vả vô cùng. Nhưng 1-Click có giá của 1-Click. Bạn sẽ gặp phải tình trạng công cụ này không tích hợp được distro kia, và nhiều khi bạn không lường trước được điều này, nên tốt nhất là bạn nên tìm hiểu trước xem công cụ nào có thể tích hợp tốt nhất Distro của mình. Thường thì các bạn lên trang chủ của Distro sẽ thấy hướng dẫn tích hợp bộ cài vào USB, trong đó nêu cụ thể công cụ bạn cần dùng.

Trong bài viết này, mình sẽ giới thiệu 4 công cụ tiêu biểu trong việc tích hợp bộ cài Linux vào USB, đương nhiên là còn rất nhiều công cụ khác có thể làm được điều tương tự, nhưng mình khuyến khích sử dụng 4 công cụ này vì tỉ lệ thành công rất cao. Và cả 4 công cụ đều là 1-Click nên việc thực hiện không có gì khó khăn cả.

A. Universal USB Installer

Download: Universal USB Installer

Cách tích hợp bộ cài Distro vào USB:

– Chọn tên Distro cần tích hợp

– Trỏ đường dẫn tới tệp tin cài đặt

– Chọn USB cần tích hợp

– Chọn Format ổ USB, nên backup dữ liệu trước khi Format

– Nhấn Create để bắt đầu và chờ quá trình tích hợp hoàn tất.

B. Win32 Disk Imager

Download: Win32 Disk Imager

Cách tích hợp bộ cài Distro vào USB:

– Chọn tệp tin đĩa cài đặt (Lưu ý: Định dạng mặc định của Win32 Disk Imager là IMG, nhưng bạn có thể chọn file ISO)

– Chọn USB cần tích hợp

– Nhấn nút Write để bắt đầu quá trình tích hợp và chờ cho quá trình này hoàn tất.

Lưu ý:

  • Trong quá trình sử dụng mình gặp một thông báo là “Writing on a Physical Device may corrupt the device”. Đó là do bạn chọn ổ USB chứ không phải đĩa CD/DVD nên nó mới báo thế. Nếu các bạn gặp thông báo này cứ nhấn OK để tiến hành tích hợp.
  • Sau khi sử dụng công cụ này thì USB sẽ biến thành một chiếc đĩa DVD nên bạn không thể chỉnh sửa nó cũng như xem nội dung của nó. Nếu bạn mở nó thì sẽ được thông báo yêu cầu format. Nếu bạn tiến hành format thì USB sẽ bị mất dung lượng. Để tiến hành lấy lại dung lượng đã mất bạn phải dùng MiniTool Partition Wizard để phân vùng lại cho USB, ghép phần còn trống (Unallocated) trên USB với phân vùng đã có trên USB để lấy lại dung lượng đã mất.

C. Unetbootin

Download: Unetbootin

Cách tích hợp bộ cài Distro vào USB:

– Khởi động Unetbootin, chọn Diskimage để tiến hành chọn tệp tin cài đặt Distro đã download, chọn định dạng file là ISO, chỉ đường dẫn tới tệp tin cài đặt Distro.

– Type: Chọn USB Drive, xác định USB cần tích hợp

– Nhấn OK và chờ quá trình tích hợp hoàn tất.

D. SUSE Imager Writer

Download:

  • RPM Package for Fedora, openSUSE

Cách tích hợp bộ cài Distro vào USB:

– Chọn file cài đặt Distro

– Chọn USB cần tích hợp

– OK!!!

Lưu ý: Sau khi sử dụng công cụ này thì USB sẽ biến thành một chiếc đĩa DVD nên bạn không thể chỉnh sửa nó cũng như xem nội dung của nó. Nếu bạn mở nó thì sẽ được thông báo yêu cầu format. Nếu bạn tiến hành format thì USB sẽ bị mất dung lượng. Để tiến hành lấy lại dung lượng đã mất bạn phải dùng MiniTool Partition Wizard để phân vùng lại cho USB, ghép phần còn trống (Unallocated) trên USB với phân vùng đã có trên USB để lấy lại dung lượng đã mất.

Sau khi sử dụng cả 4 công cụ thì mình có bảng tổng kết sau đây. Tùy thuộc vào bạn đang sử dụng hệ điều hành nào và Distro cần tích hợp là gì để chọn công cụ phù hợp.

 

 

Nền tảng

 

Universal USB Installer

 

 

Win32 Disk Imager

 

 

Unetbootin

 

Suse Image Writer

 

 

Windows cài đặt trên máy tính

 

 

Thành công trong hầu hết trường hợp

 

 

Thành công trong hầu hết trường hợp

 

 

Không thành công (USB không boot)

 

 

Không hỗ trợ

 

 

Mini Windows XP và các bản Win PE

 

 

Không thành công (không khởi động được)

 

 

Thành công trong hầu hết trường hợp

 

 

Không thành công (USB không boot)

 

 

Không hỗ trợ

 

 

Linux

 

 

Không hỗ trợ

 

 

Không hỗ trợ

 

 

Thành công trong hầu hết trường hợp

 

 

Thành công trong hầu hết trường hợp

 

>>> Cách tạo đĩa cứu hộ Hiren’s Boot CD 15.2

  1. Chuẩn bị:

Một chiếc USB đã được format chuẩn FAT16

Dung lượng: Tối thiểu là 1 GB

Đĩa Hiren’s Boot CD 15.2 (HBCD)

Link Download: Hiren’s Boot CD 15.2

Filename: Hirens.BootCD.15.2.zip

Filesize: 592.5 MB (621283886 bytes)

ISO MD5: 7EFC81ADBBD551D56F6021C439C6837C

ZIP MD5: D342BBD6BF7554ABA24A376E41675DBF

Các công cụ tích hợp HBCD vào USB

USB Disk Storage Format: http://www.hirensbootcd.org/files/USBFormat.zip

Grub4DOS Installer 1.1: http://www.hirensbootcd.org/files/grub4dos.zip

  1. Tiến hành tích hợp HBCD vào USB:

Bạn vui lòng đọc hướng dẫn tại đây: http://www.hirensbootcd.org/usb-booting/

KIỂM TRA ĐĨA CỨNG VÀ CHUẨN BỊ PHÂN VÙNG

Hãy chuẩn bị một chiếc đĩa cứng thật hoàn hảo và sẵn sàng để cài đặt Linux lên. Bắt đầu từ việc kiểm tra bad sector đến việc chuẩn bị tất cả các phân vùng cần thiết để cài đặt Linux. MiniTool Partition Wizard Home Edition sẽ là vụ khí đắc lực giúp bạn làm những việc này. Môi trường tốt nhất để bạn thực hiện những công việc này là Mini Windows XP. Vì việc thực hiện trực tiếp trên bản Win trên máy của bạn có thể để lại rủi ro “không đáng có”.

Nhiều bạn hỏi: Tại sao phải phân vùng trước khi cài đặt Linux? Mình xin trả lời: Để giúp cho việc cài đặt sau này được thuận tiện hơn. Nếu bạn chuẩn bị ngay bây giờ thì bạn sẽ dễ thở trong các bước sau. Còn nếu bạn để đến lúc cài đặt rồi mới chuẩn bị phân vùng thì sẽ mất khá nhiều thời gian để loay hoay với công cụ phân vùng mặc định không mấy trực quan lắm của Linux.

=> Nguyên tắc vàng của mình là: Các phân vùng trên đĩa cứng phải được chuẩn bị sẵn sàng trước khi cài đặt bất cứ một hệ điều hành nào!

*) Hướng dẫn truy cập vào Mini Windows XP bằng Hiren’s Boot CD 15.2 (HBCD):

  1. Đưa USB đã tích hợp sẵn HBCD vào máy.
  2. Khởi động lại máy và chọn boot từ USB
  3. Trên menu của HBCD, chọn Mini Windows XP
  4. Chờ Mini Windows XP được nạp và sẵn sàng để sử dụng

*) Hướng dẫn Quản lí phân vùng bằng công cụ MiniTool Partition Wizard Home Edition:

Hướng dẫn khởi động MiniTool Partition Wizard từ Mini Windows XP

Để khởi động công cụ MiniTool Partition Wizard Home Edition tích hợp sẵn trên Mini Windows XP, bạn mở HBCD Menu \ Partition / Boot / MBR \ Partition Wizard Home Edition.

*) Kiểm tra bề mặt (Surface Test) bằng MiniTool Pratition Wizard

Đây là một công việc rất quan trọng mà bạn cần phải thực hiện. Mục đích của kiểm tra bề mặt là để phát hiện các bad sector trên đĩa cứng của bạn (nói nôm na là để kiểm tra xem đĩa cứng có bị hư chỗ nào không) và cố gắng sửa chúng (nhưng thường thì xác suất sửa chữa thành công rất thấp vì lỗi này có liên quan đến phần cứng). Nếu không phát hiện ra bad sector nào thì bạn có thể yên tâm thực hiện các bước tiếp theo, còn nếu có thì bạn nên mang đĩa cứng đi bảo hành là vừa rồi (dùng tiếp sẽ gây lỗi hoặc gây mất dữ liệu). Một năm bạn chỉ cần tiến hành kiểm tra bề mặt 1-2 lần là đủ.

Để tiến hành kiểm tra bề mặt, bạn nhấp phải chuột vào đầu đĩa cứng, rồi chọn Surface Test. Bạn lưu ý là hãy kiểm tra cả đĩa cứng chứ đừng kiểm tra 1 phân vùng làm gì, sẽ chẳng giải quyết được gì cả.

Nhấn Start Now để bắt đầu quá trình kiểm tra. Quá trình này có thể mất khá nhiều thời gian.

Nếu quá trình kiểm tra diễn ra thành công và không có lỗi nào được phát hiện thì bạn sẽ nhận được thông báo như hình dưới.

*) Chia phân vùng ổ cứng bằng MiniTool Pratiton Wizard

Sau khi đã kiểm tra tài sản của bạn còn nguyên vẹn, thì việc tiếp theo là chia chác nó cho người anh em Linux.

*) Các phân vùng cần thiết cho Linux:

Các phân vùng cần thiết cho Linux mà bạn cần phải chuẩn bị gồm 3 phân vùng:

  • Phân vùng Swap
  • Phân vùng Root
  • Phân vùng Home

Phân vùng Swap là RAM ảo của Linux, bạn có thể tùy biến lượng RAM ảo này sao cho thích hợp với nhu cầu sử dụng của mình. Lượng RAM ảo được khuyến cáo là 2 lần lượng RAM thực trên máy tính của bạn. Tuy nhiên, nếu máy tính của bạn có RAM từ 4 GB trở lên thì không nhất thiết phải có phân vùng này. Phân vùng Swap phải có định dạng là Linux swap (Swap area).

Phân vùng Root là phân vùng hệ thống của Linux, Linux sẽ được cài đặt vào phân vùng này và thư mục root (/) sẽ được đặt tại phân vùng này. Bạn có thể tùy biến phân vùng này phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình. Phân vùng Root nên có dung lượng >=20 GB, và phải được định dạng là Ext3 hoặc Ext4. Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, mọi người đều dùng Ext4 bởi nó có tốc độ truy xuất nhanh hơn nhiều so với Ext3, vì thế nên khuyến khích các bạn sử dụng Ext4 thay vì Ext3.

Phân vùng Home là phân vùng lưu trữ dữ liệu cá nhân của bạn. Thư mục /home sẽ được đặt tại phân vùng này. Mục đích của việc để dữ liệu của thư mục /home tại một phân vùng khác là để tránh mất mát dữ liệu khi nâng cấp hoặc cài lại Linux. Thực ra thì bạn không nhất thiết phải tạo riêng một phân vùng cho thư mục /home nhưng nếu bạn không làm điều đó thì thư mục /home sẽ được lưu trữ trong chính phân vùng Root, điều này gây ra rủi ro mất mát dữ liệu khi bạn cài lại Linux, do phải format phân vùng Root. Phân vùng này cũng phải được định dạng Ext4 và dung lượng thì tùy ý bạn. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của một số bạn, phân vùng Home tiêu tốn dung lượng rất nhanh nên bạn nên dành ra ít nhất 40 GB cho phân vùng này!

Hãy tính toán dung lượng cần thiết cho mỗi phân vùng sao cho phù hợp với nhu cầu của bạn. Sau khi đã tính toán xong dung lượng cần thiết cho 3 phân vùng thì chúng ta có thể bắt đầu việc tạo các phân vùng. Để tiến hành tạo các phân vùng, chúng ta tiếp tục sử dụng công cụ MiniTool Partition Wizard.

*) Làm việc với MiniTool Partition Wizard

Trên giao diện của MiniTool, bạn có thể thấy mỗi một dòng là một ổ cứng khác nhau trên máy tính của bạn (USB cũng được coi là một ổ cứng). Trên mỗi ổ cứng có 1 hoặc nhiều phân vùng để lưu trữ dữ liệu. Mỗi phân vùng lại có một định dạng khác nhau tùy theo nhu cầu mà ta sử dụng. Bây giờ chúng ta cần tạo các phân vùng cần thiết để cài Linux lên.

Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại thì các phân vùng có sẵn trong máy đã chiếm gần hết đĩa cứng rồi, vì vậy để tạo phân vùng mới thì chúng ta phải thu hẹp dung lượng của các phân vùng khác lại, hoặc xóa bớt phân vùng đi để lấy chỗ trống. Khi thu hẹp hoặc xóa phân vùng thì sẽ tạo nên các chỗ trống (Unallocated)

Để xóa một phân vùng, bạn nhấp phải chuột vào phân vùng đó và chọn Delete, hãy cân nhắc kĩ vì một khi đã xóa phân vùng đi thì không thể khôi phục lại nó được nữa (về lý thuyết là thế, còn nếu bạn muốn biết cách khôi phục thì cứ hỏi mấy tay cứu dữ liệu nhé)

Để thu hẹp kích thước một phân vùng, bạn nhấp phải chuột vào phân vùng đó và chọn Move/ Resize, sau đó bạn tiến hành kéo-thả để điều chỉnh kích thước phân vùng và thay đổi vị trí của phân vùng theo ý muốn. Lưu ý rằng bạn chỉ có thể Resize được phân vùng có định dạng FAT16, FAT32 và NTFS mà thôi.

Sau khi Resize xong, bạn nhớ dồn hết tất cả các Partition có trong máy về vị trí cuối đĩa cứng bằng chức năng Move để chỗ trống được tập trung lại như hình dưới.

Ok, sau khi đã có đủ chỗ trống cần thiết, chúng ta có thể bắt đầu tạo thêm phân vùng mới được rồi. Nhấp chuột phải vào phân vùng Unallocated, chọn Create và nhập các thông tin cần thiết cho phân vùng mới.

  • Đầu tiên là phân vùng Swap
  • Tiếp đến là phân vùng Ext4 thứ nhất dùng làm Root
  • Cuối cùng là phân vùng Ext4 thứ 2 dùng làm thư mục /home
  • Ngắm nhìn lại thành quả lần cuối trước khi bấm Apply để xác nhận. Lưu ý rằng mọi thay đổi chỉ có hiệu lực khi bạn đã nhấn nút Apply. Nếu không muốn áp dụng các thay đổi bạn có thể nhấn vào nút Discard để hủy bỏ.

Bây giờ chúng ta cần chờ MiniTool Partition Wizard thực hiện các thay đổi. Quá trình này diễn ra nhanh hay lâu phụ thuộc vào số thay đổi, dung lượng đĩa cứng và dung lượng dữ liệu trong máy. Không nên thực hiện thay đổi trên đĩa cứng chứa nhiều dữ liệu vì sẽ phải di chuyển cả dữ liệu theo phân vùng. Và bạn tuyệt đối không được tắt máy hay đóng MiniTool khi nó đang xử lí.

Sau khi đã áp dụng thành công tất cả các thay đổi thì bạn nhận được thông báo như hình dưới.

CÀI ĐẶT LINUX VÀO MÁY

Sau khi đã chuẩn bị đĩa cứng và các công cụ cần thiết, thì giờ là thời điểm để bắt đầu cài Linux vào máy. Hãy đưa USB chứa bộ cài Linux vào máy, khởi động máy từ USB và bắt đầu cài đặt.

Nếu trong USB chỉ chứa bộ cài đặt thì việc cài đặt sẽ được bắt đầu ngay lập tức. Nếu USB cài đặt hỗ trợ Boot vào Live System thì bạn sẽ được chuyển đến môi trường Desktop của Linux Live System. Để mở trình cài đặt, bạn hãy kích đúp chuột vào biểu tượng Install (thường nằm ngay trên Desktop) hoặc vào menu và tìm mục Install.

Giao diện cài đặt với từng Distro có thể khác nhau, nhưng về mặt bản chất thì là giống nhau, đều có những bước cơ bản mà mình sẽ trình bày sau đây. Lưu ý rằng thứ tự các bước này có thể không theo thứ tự dưới đây, tùy theo Distro bạn cài.

  1. Tùy chọn Update và cài đặt phần mềm của bên thứ ba:

Một số bản phân phối của Linux cho phép bạn update ngay trong quá trình cài đặt, và cho bạn tùy chọn cài đặt thêm phần mềm của bên thứ 3. Phần mềm bên thứ 3 ở đây là codec và trình đọc flash chứ không phải mấy cái quảng cáo, toolbar vớ vẩn như mấy phần mềm ở Win vẫn thường cung cấp đâu

Chọn hay không thì tùy bạn. Mình khuyên là không nên chọn Update ngay vì quá trình Update diễn ra rất lâu, và đằng nào Linux cũng sẽ Update sau khi việc cài đặt hoàn tất. Còn cài phần mềm bên thứ 3 thì là nên chọn vì nó giúp bạn đỡ mất công cài chúng sau này.

  1. Cung cấp thông tin về ngôn ngữ:

Bạn sẽ cần cung cấp các thông tin về ngôn ngữ cài đặt, bàn phím, kiểu gõ, … Bạn cứ chọn hết là English (United States). Chọn Vietnamese cũng không sao nhưng nếu bạn thiết lập bàn phím, kiểu gõ là Vietnamese thì sau này bạn sẽ gặp rắc rối đấy.

  1. Cung cấp ngày giờ:

Chọn múi giờ của chúng ta thôi, và nếu có thêm tùy chọn đồng bộ thời gian thì nên để máy tính tự đồng bộ với Internet để lấy ngày giờ chính xác mà không cần phải điều chỉnh bằng tay.

  1. Tạo tài khoản và mật khẩu Root:

Bạn sẽ cần phải tạo một tài khoản, và tài khoản này sẽ được bạn sử dụng để đăng nhập vào Linux trong suốt quá trình sử dụng.

Ngoài ra bạn sẽ được yêu cầu tạo một mật khẩu Root, đây là mật khẩu cung cấp cho bạn quyền điều hành cao nhất trong hệ thống Linux của bạn. Bạn nên tạo một mật khẩu mạnh cho Root và bảo quản nó cẩn thận.

Lưu ý: Nếu bạn không được yêu cầu tạo mật khẩu Root thì có thể là Distro bạn dùng đã disable mật khẩu root, hoặc mật khẩu root đã được lấy mặc định là mật khẩu tài khoản của bạn.

  1. Cung cấp thông tin về phân vùng cài đặt:

Đây chính là bước then chốt đây. Kinh nghiệm của mình là nếu bạn nhận được một thông báo tương tự như thế này thì bạn cứ chọn Others hoặc Something Else cho mình.

Bởi vì sao ư? Bởi vì nếu bạn chọn theo các tùy chọn sẵn có thì có thể Linux sẽ tự động chia phân vùng không đúng theo ý muốn của bạn. Bạn phải chọn Others hoặc Something Else để đến được với màn hình tùy biến phân vùng sẽ cài đặt, và bạn sẽ có quyền lựa chọn cài Linux vào đúng phân vùng đã tính trước ở các bước trước đó.

Giao diện tùy biến phân vùng sẽ gần giống nhau ở hầu hết các Distro.

Bạn có thể thấy ba phân vùng ta đã chuẩn bị trước đều đã hiện ra sẵn ở đây. Giờ công việc của bạn chỉ còn là chọn và thiết lập chúng đúng theo ý muốn thôi:

– Phân vùng Swap bạn chọn Use as swap area.

– Phân vùng Root bạn chọn Use as Ext4 Journaling file system, đặt mount point là / (root), nên format trước khi cài.

– Phân vùng Home bạn chọn Use as Ext4 Journaling file system, mount point đặt là /home, format hay không thì tùy ý bạn.

Ok, sau khi đã cung cấp xong đủ mọi loại thông tin rồi thì công việc của bạn chỉ còn là… ngồi chờ nó cài thôi.

VẤN ĐỀ CÀI LINUX SONG SONG VỚI WINDOWS HOẶC DISTRO KHÁC

Thực ra việc cài song song Linux với Windows rất đơn giản… Nếu ta làm đúng cách! Trước tiên, để nắm được nguyên lý của cài song song (dual-boot), ta cần làm quen với một chút lý thuyết sau đây:

Để hệ điều hành khởi động được thì cần phải có một thứ gọi là bootloader. Bootloader sẽ có tác dụng nạp hệ điều hành mà bạn yêu cầu. Khi bạn cài một hệ điều hành nào đó, bootloader sẽ được cài lên đĩa cứng mà bạn đang dùng để boot, để khi bạn boot từ đĩa cứng đó, bootloader sẽ nạp hệ điều hành mà bạn mong muốn.

Tuy nhiên, mỗi đĩa cứng chỉ có thể có 1 bootloader, và khi bạn cài hệ điều hành mới thì bootloader của hệ điều hành mới sẽ được thay thế cho bootloader cũ. Vậy để cài song song 2 hệ điều hành, thì bootloader của hệ điều hành mới phải nhận diện được hệ điều hành cũ trên máy tính của bạn, từ đó đưa ra cho bạn tùy chọn boot vào hệ điều hành mới hay hệ điều hành cũ.

Bootloader của một hệ điều hành có khả năng nhận diện được tất cả các hệ điều hành cũ hơn nó. Vì vậy nguyên lý cài dualboot 2 hoặc nhiều hệ điều hành đó là: Cài lần lượt từ hệ điều hành cũ nhất đến hệ điều hành mới nhất!

Vậy thì vấn đề đặt ra ở đây là bootloader của Linux có nhận diện được Windows không? Câu trả lời là có. Bootloader của Linux tất cả các bản mới nhất hiện nay đều hỗ trợ dual-boot đến hệ điều hành mới nhất của Microsoft là Windows 8.1.1, vì thế nên bạn không có gì phải lo lắng cả.

Nếu như bạn có ý định cài nhiều bản Linux song song với nhau thì cũng không có gì phải lo lắng bởi trong nhiều trường hợp, các em Linux khá hòa thuận với nhau, có thể nhận diện được nhau mà không phân biệt cũ mới. Tuy nhiên, bạn vẫn nên cài theo nguyên tắc từ cũ đến mới để đảm bảo an toàn chắc chắn (cài không cần thận mà không dual-boot được là mình ko có chịu trách nhiệm đâu nha).

Đương nhiên có một phương pháp cài khác giúp bạn dual-boot được nhiều hệ điều hành mà không cần quan tâm đến chuyện cũ mới, nhưng tiếc là cách này chỉ có thể áp dụng khi bạn có 2 đĩa cứng trở lên. Khi đó, mỗi đĩa cứng sẽ có 1 bootloader khác nhau, và mỗi bootloader sẽ cho phép bạn boot vào một hệ điều hành khác nhau. Như vậy, muốn khởi vào hệ điều hành nào thì bạn chỉ cần cho boot từ đĩa cứng chứa bootloader dành cho hệ điều hành đấy. Khi cài đặt Linux bạn luôn luôn thấy tùy chọn cài bootloader vào đĩa cứng nào, đây là điểm cực kì linh hoạt của hệ điều hành này. Lưu ý rằng đây là bootloader của cả đĩa cứng chứ không phải bootloader của phân vùng đâu nhá.

SuperIT4444.WordPress.com

Nguồn: jeremietrung.blogspot.com

IT is my life!